Phục Linh ( Phơi Khô )

Phục linh (hay bạch phục linh) là một vị thuốc quý góp mặt trong rất nhiều bài thuốc cổ truyền, chuyên dùng để chữa các chứng suy nhược, mệt mỏi, phù thũng, ngực bụng đầy chướng, kém ăn, mất ngủ, lo sợ…

Giới thiệu chung về vị thuốc Phục Linh

Phục linh, hay còn gọi là bạch phục linh có tên khoa học Poria cocos Wolf họ nấm lỗ Polyporaceae. Phục linh là loại nấm có thể quả lớn, kí sinh hoặc hoại sinh trên rễ cây thông. Nấm mang hình khối to nhỏ, không đều, có thể nặng tới 5kg. Loại nhỏ to bằng nắm tay. Mặt ngoài vỏ phục linh màu nâu đen, xù xì, mặt cắt bên trong lổn nhổn chứa các khuẩn ty, bào tử, cuống đảm tử. Hiện nay nguồn Phục linh của Việt Nam chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Phục linh chính là thể quả của nấm có hình dạng không đều nhau, đường kính có thể đạt từ 10 – 30cm. Loại phục linh trồng có thể thu hoạch sau 2 năm, loại tốt nhất phải từ 3 – 4 năm tuổi.

Phục linh được chia thành 4 loại chính:

  • Phục linh bì: Vỏ ngoài của “ củ” phục linh
  • Xích phục linh: lớp thứ hai sau phần vỏ, màu nâu hồng hoặc nâu nhạt.
  • Bạch phục linh: Là phần bên trong, màu trắng

Thành phần hóa học

Các thành phần hoạt chất chính có trong phục linh là β – pachyman – một polysacharid có tính kháng ung thư mạnh, các hợp chất triterpene ( acid pachymic), ergosterol, cholin, histidine…

Tác dụng của phục linh

Các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm đã chỉ ra phục linh có nhiều tác dụng dược lý quan trọng:

● Tác dụng lợi tiểu:

Dịch chiết phục linh có tác dụng làm tăng lượng nước tiểu trên thỏ thực nghiệm.

● Tác dụng kháng khuẩn:

Nước sắc phục linh có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều chủng vi khuẩn như tụ cầu, enterococcus ( chủng vi khuẩn hàng đầu gây nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện), xoắn khuẩn ( Spirochaeta).

● Tác dụng chống nôn:

Khả năng chống nôn của phục linh chủ yếu liên quan nhóm triterpene với hoạt chất điển hình là acid pachymic.

● Thử lâm sàng chữa ung thư:

Dịch chiết phục linh dành cho các bệnh nhân ung thư giúp người bệnh ăn ngon hơn, nâng cao chức năng miễn dịch, bảo vệ tủy xương, cải thiện chức năng gan thận, tăng hiệu quả xạ trị với ung thư vòm họng…

Theo một số tài liệu của Trung Quốc, phục linh còn giúp tăng cường miễn dịch, an thần, chống loét dạ dày, hạ đường huyết…

Công Dụng của Phục Linh

Phục linh có vị ngọt nhạt, tính bình, có tác dụng lợi thủy, thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm, an thần.

Phục linh được dùng để chữa bệnh trong nhiều trường hợp. Mỗi bộ phận của bạch linh đều có tác dụng rất riêng biệt:

  • Xích phục linh có tác dụng hành thủy, lợi thấp nhiệt.
  • Phục linh bì tác dụng thiên về lợi tiểu, chống phù.
  • Bạch phục linh ngoài lợi thủy trừ thấp còn có tác dụng bổ tỳ, chữa bụng đầy chướng, tiêu chảy, tỳ hư, kém ăn, thuốc bổ toàn thân chữa suy nhược, hoa mắt, di mộng tinh, an thần, chữa hồi hộp, mất ngủ, tinh thần suy nhược. Vì vậy phục linh dùng tốt trong các trường hợp kém ăn, khó tiêu hóa trong nhiều chứng bệnh, trong đó có chứng táo bón lâu ngày, táo bón chảy máu.

Bài thuốc dân gian có chứa vị thuốc Phục Linh

● Chữa suy nhược cơ thể kèm theo tiêu chảy kéo dài do tỳ hư:

Bài thuốc Hương sa lục quân:  Bạch linh, bạch truật, đảng sâm mỗi vị 10g, cùng với cảm thảo chích 3g, trần bì 5g, bán hạ ( chế với gừng) 5g, mộc hương, sa nhân đều 4g. Tất cả tán bột mịn trộn với nước gừng làm thành viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống từ 4 – 8g tùy theo tuổi

● Chữa phù thũng

Phục linh bì, trần bì, đại phúc bì, tang bạch bì, vỏ gừng sống mỗi vị 16g. ( Có thể vỏ hướng dương 16g, mộc thông 16g vào sắc uống cùng) – Trích theo Nam dược thần hiệu.

● Chữa cơ thể suy nhược, mệt mỏi, gầy yếu.

Bạch linh, nhân sâm, bạch truật đều 16g, cam thảo 8g. Sắc kĩ chia làm 2 – 3 lần uống trong ngày. ( Tứ quân tử thang).

Cũng bởi tác dụng kiện tỳ, kích thích tiêu hóa, Phục linh được đưa vào trong công thức của Diếp cá vương để giúp bệnh nhân táo bón, trĩ giảm chướng bụng, đầy hơi, tăng cảm giác ngon miệng, đem lại hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn.

  • Chữa Viêm Khớp 

Phục linh 12g, Cam thảo 6g, Đương quy 8g, Đẳng sâm 12g, Bạch Thược 12g, Thục địa 12g, Độc hoạt 12g, Tần giao 12g, Quế chi 8g, Tang ký sinh 12g, Đỗ trọng 12g, Phòng phong 12g.