LÁ SEN

Cây sen ( lá sen ) có tên khoa học là Nelumbo nucifera. Các bộ phận của cây sen đều có công dụng chữa bệnh rất tốt; trong đó lá sen (phải là lá màu lục, còn nguyên lá, không bị sâu, không có vết thủng) chữa được khá nhiều bệnh.

Theo Đông y, lá sen có vị đắng, hơi chát, không độc, mùi thơm nhẹ, tính mát bình, có tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết với công dụng an thần, chống co thắt cơ trơn, chống choáng phản vệ, ức chế loạn nhịp tim, đại tiện, tiểu tiện ra máu, chảy máu chân răng, chống xơ vữa động mạch, rối loạn nhịp tim, xuất huyết dưới da, sốt xuất huyết và cả giảm mỡ máu, hạ huyết áp, giảm đau, cầm máu. Lá sen phối hợp với các vị thuốc sơn tra, hà thủ ô và thảo quyết minh (hạt muồng) pha trà uống thường xuyên sẽ có tác dụng giảm cholesterol cùng các tác nhân gây béo phì.

Công dụng của lá sen

  • Chữa băng huyết, chảy máu cam, tiêu chảy ra máu: Lá sen 40g để sống, rau má 12g sao vàng, thái nhỏ, sắc với 400ml nước để cạn còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
  • Chữa mất nước do tiêu chảy: Lấy lá sen non (loại lá còn cuộn lại chưa mở càng tốt) rửa sạch, thái nhỏ, ép lấy nước uống làm nhiều lần trong ngày. Hoặc thái nhỏ, trộn với các loại rau ghém, ăn sống hằng ngày.
  • Chữa đau mắt: Lá sen, hoa hòe (mỗi vị 10g), cúc hoa vàng 4g, sắc uống.- Chữa ho ra máu, nôn ra máu: Lá sen, ngó sen, sinh địa (mỗi vị 30g), trắc bá, ngải cứu (mỗi vị 20g); tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống trong ngày.
  • Chữa mụn nhọt: Lấy núm cuống lá sen nấu nước đặc để rửa, rồi lấy lá sen rửa sạch, giã nát với cơm nếp, đắp bên ngoài làm tan mụn nhọt.
  • Chữa máu hôi không ra hết sau khi sinh: Lá sen sao thơm 20-30g, tán nhỏ, uống với nước, hoặc sắc với 200ml nước để cạn còn 50ml, uống một lần trong ngày.
  • Chữa béo phì: Lá sen tươi 1 lá, gạo tẻ 100g, đem nấu cháo dùng với đường trắng, cũng có thể bỏ thêm đậu xanh để tăng sức thanh nhiệt giải độc. Nếu không có lá sen tươi, có thể dùng lá sen khô, nhưng trước khi dùng phải ngâm cho mềm. Hoặc mỗi ngày uống trà lá sen (không nên uống nhiều).
  • Chữa mất ngủ: Lá sen loại bánh tẻ 30g rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô sắc (hoặc hãm nước sôi) để uống, có tác dụng còn lớn hơn tim sen.
  • Chữa nóng trong người vào mùa hè: Lá sen đem hãm nước sôi, uống thay trà, giải khát.
  • Chữa sốt xuất huyết: Lá sen 40g, ngó sen hoặc cỏ nhọ nồi 40g, rau má 30g, hạt mã đề 20g, sắc uống ngày 1 thang. Nếu xuất huyết nhiều, có thể tăng liều của lá.
  • Chữa cao huyết áp, giảm cholesterol trong máu: Lá sen phơi khô, thái nhuyễn dùng nấu cháo với đường cát, có tác dụng giảm huyết áp, giảm  cholesterol trong máu, thanh nhiệt, trị cảm sốt, say nắng.
  • Chữa mỡ máu: Lá sen khô 60g, sơn tra sống 10g, sinh ý mễ 10g, hoa sinh diệp 15g, vỏ quất 15g, lá chè 60g; tất cả tán bột, đun sôi pha loãng uống thay trà. Hoặc lá sen tươi 30g, nếu không có lá sen tươi thì dùng lá sen khô 10g, ngâm lá sen, rửa sạch, thái nhỏ, cho vào cốc sứ, ngâm nước, sau khi ngâm 15 phút có thể uống thay trà.
* Lưu ý: Lá sen nếu dùng quá liều hoặc tùy tiện thì có thể gây ngộ độc cho cơ thể như: tê môi, lưỡi và niêm mạc miệng; nôn nao, hoảng hốt, da xanh xao, chân tay lạnh, vã mồ hôi, co giật, mạch nhỏ yếu, khó bắt, rối loạn tim mạch, tụt huyết áp… Ngoài ra, người có thể hàn dùng lá sen có thể bị tiêu chảy, nhiệt độ hạ thấp, chân tay lạnh…

 Đối tượng sử dụng Lá Sen: 

  • Người bị máu nhiễm mỡ, nam giới uống rượu bia nhiều nóng trong người uống có tác dụng chữa háo khát, giải nhiệt, mát gan.
  • Phụ nữ sau khi sinh 02-03 tháng có thể uống được trà này vừa để giảm cân, vừa làm sạch máu hôi.
  • Người bị huyết áp cao uống trà có thể chữa bệnh huyết áp cao
  • Người bị mất ngủ thường xuyên uống trà để cải thiện tình trạng mất ngủ

Cách sử dụng Lá sen

 Đun nước uống hàng ngày. Uống Lá sen thường xuyên và liên tục sẽ giảm lượng mỡ dư thừa trong cơ thể đáng kể, giúp bạn có thân hình khỏe và đẹp.

Hoa Sen Quốc Hoa Việt Nam

Chỉ duy nhất loài sen mới hội tụ đầy đủ trong mình ý nghĩa triết học – nhân sinh cao quý, là ý nghĩa về âm dương ngũ hành và sức vươn dậy của một ý chí sống mãnh liệt như dân tộc Việt.

Biểu tượng cao quý của phẩm cách

Đạo Phật lấy hoa sen làm Phật đài. Vì sao bông hoa sen sinh trưởng trong ao hồ bùn nước kia lại được xem làm một biểu tượng linh thiêng, cao quý nhường ấy?

Trong muôn vàn các loài hoa với bao hương sắc lộng lẫy, quyến rũ và sự thực, nếu chỉ xét theo cái nhìn thông thường thì có không ít loài hoa thơm hơn sen về hương, đẹp hơn sen về sắc. Tuy vậy chỉ duy nhất loài sen mới hội tụ đầy đủ trong mình ý nghĩa triết học – nhân sinh cao quý, là ý nghĩa về âm dương ngũ hành và sức vươn dậy của một ý chí sống mãnh liệt như dân tộc Việt.

Sen bắt đầu ủ mầm trong bùn đất, mà là ở vị trí cực cách bức, tối khuất, nhơ bẩn và từ vị trí đó sen nở mầm kiên nhẫn vươn lên.

Phật giáo lấy hoa sen làm Phật đài, biểu tượng tinh thần về 5 điều cơ bản. 1) Tính vô nhiễm: Sen mọc lên từ chốn tối tăm bùn lầy hôi tanh mà sen không bị vương bẩn. 2) Tính thanh lọc: Khi cây sen lớn lên, sinh sôi nẩy nở thì sẽ làm cho dòng nước nơi đó trở nên trong mát. 3) Tính thuỳ mị của mùi hương: Hương sen toả lên một mùi thơm thanh khiết, không quá nồng nàn, ngào ngạt. 4) Tính thuần khiết: Bông hoa sen từ khi nở tới lúc tàn không hề bị một loài ong bướm nào tới đậu lấy nhụy. 5) Tính kiên nhẫn: Cây sen từ lúc nẩy mầm trong bùn đất, ở đáy nước cho tới lúc vươn lên trên mặt nước rồi xoè lá, trổ hoa là cả một quá trình sinh trưởng kiên nhẫn lớn lao.

Trong thế giới thảo mộc, các loài hoa không có loài nào phải chịu đựng sự gian khó của hoàn cảnh sống đến vậy. Và ở điểm này sen còn hàm chứa ý nghĩa tốt đẹp, là sinh trưởng trong bùn tối nên sen đã tránh không phải cạnh tranh vị trí sống với loại cây nào.

Ngoài năm lẽ cơ bản về phẩm chất – tinh thần sống trên, sen còn có thêm những giá trị cao quý vô lường khác. Như hạt sen có thể cất giữ hàng trăm năm khi gieo vẫn nẩy mầm như thường. Và đời sống của sen còn thể hiện nên 3 tầng sống riêng biệt, là trong bùn tối; vươn lên khoảng trong sạch là dòng nước; rồi cuối cùng vươn lên khoảng hư không, lên với bầu khí quyển và vầng mặt trời. Quan niệm nhà Phật xem đó như biểu trưng cho 3 tầng sống là cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Cây sen trải qua 3 tầng sống đó khi nở hoa xem như sư đạt ngộ, giải thoát…

Thêm nữa, hoa sen trong Phật học còn mang nhiều lớp nghĩa khác. Như kiết già, ngồi phỏng theo thế bông sen gọi là Liên hoa toạ. Khi hai tay chắp lại làm lễ Phật, phỏng theo hình búp sen thì gọi là Liên hoa hợp chứng. Và hai bàn tay chắp lại là biểu hiện của Lý và Trí. Năm ngón tay trái là ngũ trí – Thai tạng giới, năm ngón tay phải là ngũ trí – Kim cương giới. Mười ngón tay chắp lại thành Thập độ, hay còn gọi là Thập pháp giới.

Về Thập pháp lại chia ra năm phàm và năm thánh. Tay trái thuộc phàm là Địa ngục, Ngũ quỷ, Súc sinh, Nhân và Thiện. Tay phải thuộc thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Quyền Phật và Thiện Phật… lại thêm những nghĩa, 4 chữ Vi, 12 chữ Diệu, 2 chữ Hương, 3 chữ Khiết v.v… Hay như câu chân ngôn “Án – ma – ni bát mê hồng”, tạm dịch ra tiếng Việt là “Ôi! Chân linh trong Hoa sen”, một câu chân ngôn được xem có huyền lực vô biên của pháp Phật.

Còn nhiều ý nghĩa khác của sen trong Phật học. Quả không gì quý và lạ bằng sen.

Ngoài Phật học, sen còn mang giá trị triết học về âm dương ngũ hành và đây cũng là một cơ sở Phật học dụng nghĩa cho Phật đài – Yên hoa tạng thế giới.

Về ngũ hành, cây sen thuộc hành mộc. Để vươn lên mặt ao hồ sen phải vượt qua tầng nước sâu, nước là hành thuỷ. Bông hoa sen màu hồng, màu thuộc hành hoả. Nhụy sen màu vàng, màu thuộc hành thổ. Và ngó sen màu trắng, màu thuộc hành kim. Ngũ hành – năm hợp chất quan trọng, có thể gọi đó là bản thể của thế gian này.

Ngoài ngũ hành, giá trị của hoa sen cũng phải kể tới hương thơm. Có thể tính làm phần giá trị thứ sáu. Số 6 này xem như phần “linh” của đời sống. Nó vô hình, vô sắc nhưng lại hữu linh.

Về âm – dương, từ phần gốc, thân sen chìm trong nước, trong tối khuất, thuộc âm, phần lá và hoa nở trên mặt nước, khoe hình sắc dưới ánh mặt trời là thuộc dương.