CÂY GIAO

Tên thường gọi: Xương khô còn gọi là San hô xanh, Cành giao, Lục ngọc thụ, Quang côn thụ, Thanh san hô, San hô xanh, Cây giao.

Họ khoa học: Euphorbia tirucalli L. (E. viminalis Mill., E. rhipsaloides Lem.)

Họ khoa học: thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiceae.

Cây Xương khô

Mô tả:

Cây nhỡ, có thể cao tới 4-8. Thân to bằng cổ tay, nhiều cành gần như mọc vòng, hình trụ, dài, màu lục, nom như cành san hô. Các cành nhỏ có lá. Lá hẹp, rụng rất sớm, dài 12-16mm, rộng 2mm. Cụm hoa có bao chung nhỏ, 5 tuyến hình bầu dục, nhị nhiều; nhụy có 3 vòi chẻ đôi, đầu nhụy hình đầu. Quả nang ít lông, có 3 mảnh lồi. Hạt hình trái xoan nhẵn.

Bộ phận dùng:

Toàn cây – Herba Euphorbiae Tirucalli.

Nơi sống và thu hái:

Loài nguyên sản ở châu Phi (Madagascar), được nhập trồng làm cây cảnh, có khi được trồng làm hàng rào. Có thể thu hái cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.

Thành phần hóa học:

Cây chứa euphorbon; từ nhựa tươi đã tách được isoeuphorol, từ nhựa khô có một ceton là euphorone.

Xương khô chứa các euphorbin A và F (CA 113: 74.720 h), cyclotứucanenol (24p – methyl – 9P – 19 – cycloanost – 20 – en – 3p – ol) (CA 111: 74.738 d). Vỏ thân chứa cycloeucalenol và Y – taraxasteryl acetat (CA 112: 136.009 y). Vỏ thân khô và tươi còn có euphorginol (taraxer – 14 – 6ct – ol; CA 111: 112.295 s) va glut – 5 – en – 3p – ol và cycloart – 23 – en – 3p – 25 – diol (CA 108: 109.569 s). Nhựa mủ cây chứa các diterpen từucalicin (CA 110: 170.225 j), 3, 7, 12 – tri – o – acetyl – 8 – isovaleryl – ingol (CA 114: 78.581 g), các chất diterpen ester là dẫn chất của các alcol ingenol, phorbol và resiniferonol, chất triterpen cycloeuphordenol (4a, 14a, 24ß – trimethyl – 9ß: 19 – cyclocholest – 20 – en – 3ß – ol (CA 109: 187.270 x).

Tác dụng dược lý:

Cao ethanol của cành xương khô có tác dụng ức chế Bacillus subtilis và Staphylococcus aureus in vitro. Cao ethanol của lá, thân cây non và nhựa mủ có tác dụng giảm đau, ức chế hệ thần kinh trung ương và chống co giật trên động vật thí nghiệm. Cao xương khô có tác dụng làm tàng sự hoạt hóa các hệ gen tiềm tàng của vừus Epstein – Barr (EBV) trong những nguyên bào lymphô mang EBV và cả trên sự biến đổi tế bào lymphô người gây bởi EBV. Đất và nước lấy ở xung quanh cây cũng có tác dụng làm tăng sự hoạt hóa này và gây nguy hiểm cho người. Nhựa mủ xương khô chứa những chất kích thích và đồng gây ung thư. Đó là những diterpen ester dẫn chất của các alcol ingenol, phorbol và resiniferonol.

Vị thuốc Xương khô

 

 

Tính vị:

Toàn cây có vị cay, hơi chua, tính mát, hơi có độc.

Tác dụng:

Tác dụng thúc sữa, sát trùng, khư phong, tiêu viêm, giải độc. Nhựa cây rất độc, có thể làm mù mắt; nó gây phồng làm nóng đỏ, chống kích thích, xổ. Nhựa này sẽ khô đặc lại ngoài ánh nắng và khi ngâm trong nước sẽ cho loại nhựa như cao su.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Ở Trung Quốc, người ta dùng toàn cây trị thiếu sữa, nấm ngoài da, khớp xương buốt đau.

Ở Ấn Độ, nhựa cây được dùng trị mụn cóc, Thấp khớp, đau thần kinh, Đau răng, trị ho, hen suyễn, đau tai và dùng duốc cá.

Ở Inđônêxia cũng dùng nhựa trị bệnh ngoài da, rò, mụn mủ, bướu, táo bón và làm thuốc tẩy.

Ở Thái Lan, nhựa tươi cũng được dùng ngoài trị mụn cóc.

Ở nước ta, cành lá cũng được dùng trị bệnh ngoài da, táo bón và liệt dương(Viện Dược liệu); rễ cây dùng trị loét mũi và Trĩ. Nhân dân cũng dùng cành tươi ngâm rượu chữa đau răng, viêm xoang.

Ở nhiều nước (Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin,… ) người ta dùng cây và nhựa để duốc cá.

Cách dùng: Nhựa thường dùng bôi; cành và rễ dùng dưới dạng thuốc sắc.

Ðơn thuốc: Chữa Đau răng: Hái lấy chừng 50g cành Xương khô, rửa sạch, ngâm ngay vào trong 100ml cồn 90°. Mỗi lần dùng một thìa cà phê (15ml) cho vào cốc nước, ngâm một chốc, sau đó nhổ đi; ngày ngậm 3-4 lần. (Ðỗ Tất Lợi).